|
|
|
This is a machine translation made by Google Translate and has not been checked. There may be errors in the text. On the right, there are more links to translations made by Google Translate. In addition, you can read other articles in your own language when you go to my English website (Jari's writings), select an article there and transfer its web address to Google Translate (https://translate.google.com/?sl=en&tl=fi&op=websites).
Kitô giáo và khoa học
Có phải niềm tin Kitô giáo là một trở ngại cho khoa học hay nó đă thúc đẩy nó? Đọc các bằng chứng!
Chủ đề của bài viết này là đức tin và khoa học Kitô giáo. Đức tin Kitô giáo đă ảnh hưởng đến khoa học và sự phát triển của nó như thế nào? Nó đă cản trở sự phát triển của khoa học hay đă thúc đẩy nó? Nếu vấn đề này chỉ được xem xét thông qua các phương tiện truyền thông thế tục và các bài viết của các nhà khoa học vô thần, th́ họ thường tŕnh bày một quan điểm phổ biến về xung đột giữa đức tin và khoa học. Người ta cho rằng niềm tin vào Chúa và khoa học là đối lập nhau và niềm tin Kitô giáo đă là một trở ngại cho sự phát triển của khoa học. Theo ư tưởng này, khoa học được cho là rất mạnh ở Hy Lạp và chỉ tiến bộ trở lại khi, trong thời kỳ Khai sáng, nó tách khỏi tôn giáo mặc khải và bắt đầu dựa vào lư trí và quan sát. Tầm quan trọng của Darwin nói riêng được coi là quan trọng đối với thắng lợi cuối cùng của thế giới quan khoa học. Nhưng sự thật của vấn đề là ǵ? Cốt lơi của đức tin Cơ đốc chưa bao giờ là khoa học và thực hành khoa học, mà là niềm tin vào sự tồn tại của Đức Chúa Trời và Chúa Giê-xu Christ, qua Ngài mọi tội lỗi đều có thể được tha thứ. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là đức tin Kitô giáo không ảnh hưởng đến khoa học và sự phát triển của xă hội. Ngược lại, tầm quan trọng của Chúa Giêsu và đức tin Kitô giáo đă quyết định cho sự ra đời và tiến bộ của khoa học. Quan điểm này dựa trên một số điểm mà chúng ta sẽ xem xét sau đây. Chúng tôi bắt đầu với ngôn ngữ và khả năng đọc viết.
Biết chữ: từ điển, ngữ pháp, bảng chữ cái. Đầu tiên, sự ra đời của ngôn ngữ sách và chữ viết. Ai cũng hiểu, nếu một dân tộc không có ngôn ngữ văn tự riêng, người dân không biết đọc th́ đó là trở ngại cho sự phát triển của khoa học, nghiên cứu, sự ra đời của những phát minh và sự truyền bá tri thức. Rồi không có sách th́ không đọc được, tri thức không lan tỏa được. Xă hội vẫn trong t́nh trạng tŕ trệ. Vậy th́, đức tin Cơ đốc đă ảnh hưởng như thế nào đến việc tạo ra các ngôn ngữ văn học và khả năng đọc viết? Đây là nơi nhiều nhà nghiên cứu có một điểm mù. Họ không biết rằng hầu hết tất cả các ngôn ngữ văn học đều được tạo ra bởi những người theo đạo Cơ đốc ngoan đạo. Ví dụ, tại Phần Lan này, Mikael Agricola, nhà cải cách tôn giáo người Phần Lan và là cha đẻ của văn học, đă in cuốn sách ABC đầu tiên, Tân Ước và các phần của các sách khác trong Kinh thánh. Mọi người đă học cách đọc qua chúng. Ở Đức, Martti Luther cũng làm điều tương tự. Ông đă dịch Kinh thánh sang tiếng Đức bằng phương ngữ của riêng ḿnh. Bản dịch của ông đă được xuất bản hàng trăm lần và phương ngữ mà Luther sử dụng đă trở thành ngôn ngữ văn học của người Đức. C̣n nước Anh th́ sao? William Tyndale, người đă dịch Kinh thánh sang tiếng Anh, đóng một vai tṛ quan trọng trong việc đó. Bản dịch của Tyndale đă ảnh hưởng đến sự ra đời của ngôn ngữ tiếng Anh hiện đại. Dựa trên bản dịch của Tyndale, bản dịch King James sau đó đă được tạo ra, đây là bản dịch Kinh thánh tiếng Anh nổi tiếng nhất. Một ví dụ là các chữ cái của các dân tộc Slavic, được gọi là bảng chữ cái Cyrillic. Chúng được đặt theo tên của Thánh Cyril, một nhà truyền giáo của người Slav và nhận thấy rằng chúng không có bảng chữ cái. Cyril đă phát triển bảng chữ cái cho họ để họ có thể đọc Tin Mừng về Chúa Giêsu. Do đó, trước khi khả năng đọc được sinh ra, ngôn ngữ viết phải tồn tại. Theo nghĩa này, các nhà truyền giáo Kitô giáo đă đóng một vai tṛ quan trọng, không chỉ ở các nước phương Tây từ nhiều thế kỷ trước, mà c̣n ở Châu Phi và Châu Á sau này. Những người truyền giáo có thể đă thực hiện nhiều năm nghiên cứu ngôn ngữ học. Họ đă tạo ra ngữ pháp, từ điển và bảng chữ cái đầu tiên. Một người như vậy là nhà truyền giáo Methodist Frank Laubach, người đă bắt đầu một chiến dịch xóa mù chữ toàn cầu. Ông đă ảnh hưởng đến sự phát triển của sách ABC bằng 313 ngôn ngữ. Ông đă được bổ nhiệm làm tông đồ của người mù chữ. Các ví dụ sau đây đề cập đến cùng một điều, sự phát triển của ngôn ngữ. Điều quan trọng là ngay cả những ngôn ngữ như tiếng Hindi, ngôn ngữ chính của Ấn Độ, tiếng Urdu của Pakistan và tiếng Bengal của Bangladesh cũng có cơ sở ngữ pháp và ngôn ngữ dựa trên các sứ mệnh của Cơ đốc giáo. Hàng trăm triệu người nói và sử dụng các ngôn ngữ này.
Vishal Mangalwadi: Tôi lớn lên ở trung tâm của ngôn ngữ Hindu ở Allahabad, cách Kashi gần 80 km, nơi Tulsidas đă viết Ramcharitmanasin , sử thi tôn giáo quan trọng nhất của miền Bắc Ấn Độ. Tôi liên tục được cho biết rằng tiếng Hindi có nguồn gốc từ sử thi vĩ đại này. Nhưng khi tôi đọc nó, tôi đă bối rối, bởi v́ tôi không thể hiểu một cụm từ nào trong đó. “Tiếng Hindi” của nhà văn hoàn toàn khác với tiếng của tôi và tôi bắt đầu đặt câu hỏi, tiếng mẹ đẻ của tôi – ngôn ngữ quốc gia chính thức của Ấn Độ – bắt nguồn từ đâu. … Các học giả Hindu cũng không phát triển ngôn ngữ quốc gia của Ấn Độ, tiếng Hindi. Nhờ các dịch giả Kinh thánh như John Borthwick Gilchrist và các nhà ngôn ngữ học truyền giáo như Rev. SHKellogg mà ngôn ngữ văn học Hindi hiện nay đă xuất hiện từ ngôn ngữ được sử dụng bởi nhà thơ Tulsidas (khoảng 1532-1623). ... Các nhà dịch thuật Kinh thánh và các nhà truyền giáo đă cống hiến nhiều hơn tiếng mẹ đẻ của tôi là tiếng Hindi. Tất cả các ngôn ngữ văn học sống của Ấn Độ làm chứng cho công việc của họ. Năm 2005, Tiến sĩ Babu Verghese, một nhà nghiên cứu đến từ Mumbai nhưng là người bản ngữ nói tiếng Malayalam, đă nộp một luận án tiến sĩ dài 700 trang cho Đại học Nagpur để xem xét. Ông chỉ ra rằng các dịch giả Kinh thánh đă tạo ra 73 ngôn ngữ văn học ngày nay từ các phương ngữ được nói bởi hầu hết những người Ấn Độ mù chữ. Chúng bao gồm các ngôn ngữ quốc gia chính thức của Ấn Độ (tiếng Hindi), Pakistan (tiếng Urdu) và Bangladesh (tiếng Bengal). Năm học giả Bramine đă nghiên cứu luận án tiến sĩ của Verghes và trao cho ông danh hiệu Tiến sĩ Triết học vào năm 2008. Đồng thời, họ nhất trí khuyến nghị rằng sau khi xuất bản, luận án sẽ được sử dụng làm sách giáo khoa bắt buộc cho các nghiên cứu ngôn ngữ Ấn Độ. (1)
Công việc truyền giáo của Kitô giáo luôn mang tính chất rộng răi là giúp đỡ mọi người, đến nỗi nó đă vươn ra giúp đỡ những người bệnh tật, tàn tật, đói khát, vô gia cư và bị phân biệt đối xử. Ở nhiều quốc gia châu Phi, các cơ quan truyền giáo Cơ đốc đă xây dựng nền tảng của toàn bộ hệ thống trường học về giáo dục cơ bản và dạy nghề. Tương tự như vậy, việc truyền giáo đă đóng góp một cách đáng kể vào việc h́nh thành mạng lưới chăm sóc sức khỏe... Nhà nghiên cứu châu Phi nổi tiếng, giáo sư Lamin Sanneh của Đại học Yale đă tuyên bố rằng ở châu Phi, các nhà truyền giáo đă thực hiện công việc phục vụ lớn nhất cho các nền văn hóa địa phương bằng cách tạo cơ sở cho ngôn ngữ viết. (2)
Dự án văn học và văn học. Như đă nêu, hầu hết các ngôn ngữ đă nhận được cơ sở ngữ pháp và văn học của chúng từ ảnh hưởng của đức tin Kitô giáo. Những người vô thần và các quốc gia không phải là những người khởi xướng sự phát triển này, mà là những người đại diện cho đức tin Cơ đốc. Sự phát triển của các xă hội có thể bị tŕ hoăn hàng thế kỷ nếu không có niềm tin vào Chúa và Chúa Giê-su. Khu vực này bao gồm các dự án xóa mù chữ ở châu Âu và các nơi khác trên thế giới. Thông qua chúng, mọi người học cách đọc Kinh thánh và các tài liệu khác và học những điều mới. Nếu bạn không biết chữ, rất khó để học những điều mới mà người khác đă viết. Khi đức tin Kitô giáo đă chinh phục lĩnh vực này thông qua công việc truyền giáo, nó cũng đă cải thiện t́nh h́nh xă hội và địa vị của nhiều quốc gia. Những điều như vậy là t́nh trạng sức khỏe tốt hơn, nền kinh tế tốt hơn, t́nh h́nh xă hội ổn định hơn, tham nhũng và tỷ lệ tử vong ở trẻ em thấp hơn, và tất nhiên, khả năng đọc viết tốt hơn. Nếu không có công việc truyền giáo và đức tin Cơ đốc, th́ sẽ có nhiều đau khổ và nghèo đói hơn trên thế giới và mọi người sẽ không biết đọc. Trong số những người khác, Robert Woodberry, trợ lư giáo sư tại Đại học Texas, đă quan sát thấy mối liên hệ giữa công việc truyền giáo và nền dân chủ, địa vị được cải thiện của mọi người và khả năng đọc viết:
Nhà khoa học: Công việc truyền giáo bắt đầu nền dân chủ
Theo Robert Woodberry, trợ lư giáo sư tại Đại học Texas, tác động của công việc truyền giáo của những người theo đạo Tin lành vào những năm 1800 và đầu những năm 1900 đối với sự phát triển của nền dân chủ có ư nghĩa hơn so với suy nghĩ ban đầu. Thay v́ đóng một vai tṛ nhỏ trong sự phát triển của nền dân chủ, các nhà truyền giáo đă đóng một vai tṛ quan trọng trong đó ở nhiều nước châu Phi và châu Á. Tạp chí Christian Today nói về vấn đề này. Robert Woodberry đă nghiên cứu mối quan hệ giữa công việc truyền giáo và các yếu tố ảnh hưởng đến nền dân chủ trong gần 15 năm. Theo ông, ở đó các nhà truyền giáo Tin lành đă có ảnh hưởng trung tâm. Ở đó kinh tế ngày nay phát triển hơn và t́nh h́nh y tế tương đối tốt hơn nhiều so với những vùng mà ảnh hưởng của các nhà truyền giáo ít hơn hoặc không có. Ở những khu vực có lịch sử truyền giáo phổ biến, tỷ lệ tử vong ở trẻ em hiện thấp hơn, ít tham nhũng hơn, tỷ lệ biết chữ phổ biến hơn và việc đi học dễ dàng hơn, đặc biệt là đối với phụ nữ. Theo Robert Woodberry, chính những Cơ đốc nhân phục hưng Tin lành đă có tác động tích cực. Ngược lại, các giáo sĩ làm việc cho nhà nước hoặc các nhà truyền giáo Công giáo trước những năm 1960 không có tác động tương tự. (3)
Một ví dụ điển h́nh về cách đức tin Cơ đốc đă ảnh hưởng đến việc đọc viết và văn học là măi đến khoảng năm 1900, văn học thế tục mới vượt qua văn học tâm linh về doanh số bán hàng. Kinh thánh và những lời dạy của nó đă ở một vị trí quan trọng trong nhiều thế kỷ, cho đến thế kỷ trước, nó ngày càng mất đi tầm quan trọng ở các nước phương Tây. Có phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên khi trong cùng thế kỷ 20, khi đức tin Kitô giáo bị bỏ rơi, những cuộc chiến tranh lớn nhất trong lịch sử đă nổ ra? Một ví dụ khác là nước Anh, quốc gia phát triển nhất thế giới trong thế kỷ 18 và 19. Nhưng đằng sau sự phát triển tốt đẹp của nước Anh là ǵ? Chắc chắn một yếu tố là những cuộc phục hưng thuộc linh nơi người ta quay về với Đức Chúa Trời. Kết quả là nhiều điều tốt đẹp đă đến, chẳng hạn như biết chữ, băi bỏ chế độ nô lệ, và cải thiện địa vị của người nghèo và người lao động. John Wesley, người được biết đến như là nhà thuyết giáo quan trọng nhất của phong trào Giám lư và qua đó các cuộc phục hưng vĩ đại đă đến Anh vào thế kỷ 18, đă ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển này. Người ta nói rằng nhờ công việc của ông, nước Anh đă tránh được một cuộc cách mạng tương tự diễn ra ở Pháp. Tuy nhiên, Wesley và các đồng nghiệp của ông cũng góp phần khiến văn học trở nên dễ tiếp cận với người Anh. Encyclopedia Britannica nói về vấn đề này của Wesley rằng "không ai khác trong thế kỷ 18 đă làm nhiều như vậy để thúc đẩy việc đọc những cuốn sách hay và mang rất nhiều sách đến với mọi người với giá rẻ như vậy"... Ở Anh, do các cuộc phục hưng, công việc trường Chúa Nhật cũng ra đời vào thế kỷ 18. Khoảng năm 1830, khoảng 1/4 trong số 1,25 triệu trẻ em nước Anh tham gia trường học Chủ nhật, nơi chúng học đọc và viết. Nước Anh đang trở thành một xă hội biết chữ được dạy bởi Lời Chúa; nhà nước đă không ảnh hưởng đến nó. C̣n Hoa Kỳ th́ sao? Các trích dẫn sau đây đề cập đến điều này. Nó được phát biểu bởi John Dewey (1859-1952), chính ông là người có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá tŕnh thế tục hóa giáo dục ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, anh ấy giải thích đức tin Cơ đốc đă có tác động tích cực như thế nào đối với nền giáo dục phổ thông và việc xóa bỏ chế độ nô lệ ở đất nước anh ấy:
Những người này (những người theo đạo Tin lành) là trụ cột của hoạt động từ thiện xă hội, hoạt động chính trị nhằm cải cách xă hội, chủ nghĩa ḥa b́nh và giáo dục cộng đồng. Họ là hiện thân và thể hiện ḷng nhân từ đối với những người gặp khó khăn về kinh tế và các dân tộc khác, đặc biệt khi họ thể hiện sự quan tâm dù chỉ là nhỏ nhất đối với một h́nh thức chính phủ cộng ḥa - - Bộ phận dân cư này đă phản ứng tích cực trước các yêu cầu đối xử công bằng và phân phối b́nh đẳng hơn cơ hội dưới ánh sáng của quan niệm riêng của họ về b́nh đẳng. Nó theo bước Lincoln trong việc xóa bỏ chế độ nô lệ và đồng ư với ư tưởng của Roosevelt khi ông lên án các tập đoàn "xấu xa" và việc tích lũy của cải vào tay một số ít người. (4)
Các trường đại học. Trước đó, người ta đă nói rằng đức tin Cơ đốc đă ảnh hưởng như thế nào đến việc tạo ra các ngôn ngữ viết và khả năng đọc viết trong các thế kỷ qua và hiện tại. Ví dụ, ở các nước châu Phi, nền tảng của hệ thống trường học về giáo dục cơ bản và dạy nghề chủ yếu được sinh ra từ ảnh hưởng của các sứ mệnh Cơ đốc giáo, cũng như dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Nếu không có ảnh hưởng của đức tin Kitô giáo, sự phát triển của các xă hội có thể đă bị tŕ hoăn trong nhiều thế kỷ. Một khu vực là các trường đại học và trường học. Cùng với việc biết chữ, chúng rất quan trọng đối với sự phát triển của khoa học, nghiên cứu, sự ra đời của các phát minh và truyền bá thông tin. Thông qua họ, kiến thức và nghiên cứu tiến lên một tầm cao mới. Đức tin Kitô giáo đă ảnh hưởng đến khu vực này như thế nào? Giới thế tục và vô thần thường không biết rằng Kinh thánh và đức tin Cơ đốc đă đóng một vai tṛ quan trọng trong lĩnh vực này. Hàng trăm trường đại học và hàng chục ngh́n trường học đă được thành lập bởi những Cơ đốc nhân ngoan đạo hoặc thông qua công việc truyền giáo. Họ không được sinh ra trên cơ sở vô thần, bởi v́ không có trường đại học thế tục và nhà nước. Ví dụ, các trường đại học sau đây nổi tiếng ở Anh và Mỹ: - Oxford và Cambridge. Cả hai thành phố đều có rất nhiều nhà thờ và nhà nguyện. Những trường đại học này ban đầu được thành lập để dạy Kinh thánh. - Havard. Trường đại học này được đặt theo tên của Reverend John Harvard. Phương châm của nó từ năm 1692 là Veritas Christo et Ecclesiae (sự thật cho Chúa Kitô và Giáo hội) - Đại học Yale được thành lập bởi cựu sinh viên Harvard, linh mục Thanh giáo Cotton Mather. - Hiệu trưởng đầu tiên của Đại học Princeton (tiền thân là Đại học New Jersey) là Jonathan Edwards, người được biết đến với cuộc phục hưng vĩ đại ở Mỹ vào thế kỷ 18. Ông là nhà truyền đạo nổi tiếng nhất của cuộc phấn hưng này, cùng với George Whitefield. - Đại học Pennsylvania. George Whitefield, một nhà lănh đạo khác của Great Awakening, đă thành lập ngôi trường mà sau này phát triển thành Đại học Pennsylvania. Whitefield là con trai của một chủ quán rượu và là đồng nghiệp của John Wesley đă nói ở trên khi anh ta ở Anh. Anh ta có một giọng nói đẹp, vang và mạnh mẽ khác thường, đến nỗi anh ta có thể nói rơ ràng trước hàng chục ngh́n người trong các cuộc họp ngoài trời. Ông cũng có thể rao giảng trong nước mắt v́ ḷng trắc ẩn mà Chúa đă ban cho ông đối với con người. C̣n Ấn Độ th́ sao? Ấn Độ không được biết đến với Cơ đốc giáo. Tuy nhiên, ở đất nước này, cũng như ở Châu Phi, có hàng ngàn trường học đă ra đời trên cơ sở đức tin Kitô giáo. Các trường đại học đầu tiên ở Ấn Độ cũng ra đời trên cơ sở đó. Những trường đại học như đại học Calcutta, Madras, Bombay và Serampore rất nổi tiếng. Ngoài ra, Đại học Allahabad, được thành lập vào năm 1887, rất nổi tiếng. Năm trong số bảy Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ đến từ thành phố này, và nhiều quan chức chính quyền của Ấn Độ đă học tại Đại học Allahabad.
Một cuộc cách mạng trong khoa học. Bài báo bắt đầu từ quan điểm được ủng hộ bởi những người vô thần rằng đức tin Kitô giáo là một trở ngại cho sự phát triển của khoa học. Tuy nhiên, quan điểm này rất dễ bị nghi ngờ, bởi v́ ngôn ngữ văn học, văn học và các trường đại học phần lớn được sinh ra từ ảnh hưởng của đức tin Cơ đốc. C̣n cái gọi là cuộc cách mạng khoa học th́ sao? Người theo chủ nghĩa thế tục và người vô thần thường cho rằng biến động này không liên quan ǵ đến đức tin Cơ đốc, nhưng quan điểm này có thể bị nghi ngờ. Bởi v́ theo nghĩa hiện đại, khoa học chỉ mới bắt đầu một lần, đó là ở châu Âu vào thế kỷ 16-18, nơi chủ nghĩa hữu thần của Cơ đốc giáo thịnh hành. Nó không bắt đầu trong một xă hội thế tục, mà cụ thể là trong một xă hội được truyền cảm hứng bởi đức tin Kitô giáo. Hầu như tất cả các nhà khoa học hàng đầu đều tin vào sự sáng tạo. Trong số đó có Francis Bacon, Robert Boyle, Isaac Newton, Johannes Kepler, Copernicus, Galileo Galilei, Blaise Pascal, Michael Faraday, James Clerck Maxwell, John Ray, Louis Pasteur, v.v.
Nhiều thế hệ các nhà sử học và xă hội học đă lưu ư rằng Cơ đốc nhân, đức tin Cơ đốc và các thể chế Cơ đốc đă đóng góp theo nhiều cách khác nhau vào sự phát triển của các học thuyết, phương pháp và hệ thống mà cuối cùng đă khai sinh ra khoa học tự nhiên hiện đại(...) Mặc dù có những ư kiến khác nhau về ảnh hưởng của nó, hầu hết các nhà sử học ngày nay đều thừa nhận rằng Cơ đốc giáo (Công giáo và Tin lành giống nhau) đă khuyến khích nhiều nhà tư tưởng của thời kỳ tiền hiện đại tham gia vào việc nghiên cứu tự nhiên một cách có hệ thống. Các nhà sử học cũng đă quan sát thấy rằng các khái niệm mượn từ Cơ đốc giáo đă được đưa vào thảo luận khoa học với kết quả tốt. Một số nhà khoa học thậm chí c̣n cho rằng ư tưởng về thiên nhiên vận hành theo những quy luật nhất định bắt nguồn từ thần học Cơ đốc giáo. (5)
Điều ǵ đằng sau cuộc cách mạng khoa học? Một lư do, như đă nói ở trên, là các trường đại học. Đến năm 1500, có khoảng sáu mươi người trong số họ ở châu Âu. Những trường đại học này không phải là trường đại học do những người theo chủ nghĩa thế tục và nhà nước duy tŕ, mà phát sinh với sự hỗ trợ tích cực của nhà thờ thời trung cổ, và nghiên cứu khoa học tự nhiên và thiên văn học đóng một vai tṛ nổi bật trong đó. Ở họ có quyền tự do nghiên cứu và thảo luận đáng kể, điều này được ưa chuộng. Những trường đại học này có hàng trăm ngàn sinh viên, và họ đă giúp chuẩn bị nền tảng cho cuộc cách mạng khoa học có thể xảy ra ở châu Âu vào thế kỷ 16-18. Cuộc cách mạng này không đột nhiên phát sinh, mà có trước những diễn biến thuận lợi. Các châu lục khác không có nền giáo dục mở rộng và các trường đại học tương tự như ở châu Âu,
Thời Trung cổ đă tạo cơ sở cho thành tựu vĩ đại nhất của xă hội phương Tây: khoa học hiện đại. Tuyên bố nói rằng khoa học không tồn tại trước “Thời kỳ phục hưng” đơn giản là sai sự thật. Sau khi làm quen với nghiên cứu Hy Lạp cổ điển, các học giả thời Trung cổ đă phát triển các hệ thống tư tưởng, dẫn dắt khoa học tiến xa hơn nhiều so với thời cổ đại. Các trường đại học, nơi tự do học thuật được bảo vệ khỏi quyền lực của các nhà lănh đạo, được thành lập vào những năm 1100. Các tổ chức này luôn cung cấp nơi trú ẩn an toàn cho nghiên cứu khoa học. Ngay cả thần học Kitô giáo cũng được chứng minh là phù hợp một cách độc đáo để khuyến khích nghiên cứu bản chất, thứ được cho là sự sáng tạo của Chúa. (6)
Thuốc và bệnh viện. Một lĩnh vực mà đức tin Kitô giáo đă ảnh hưởng là y học và sự ra đời của các bệnh viện. Một phần quan trọng đặc biệt là các nhà sư, những người đă bảo tồn, sao chép và dịch các bản thảo y học cổ đại và các tác phẩm khoa học và cổ điển cổ đại khác. Ngoài ra, họ c̣n phát triển thêm y học. Nếu không có hoạt động của họ, y học sẽ không phát triển đến mức tương tự và các văn bản cổ xưa sẽ không được bảo tồn cho các thế hệ hiện đại đọc. Chăm sóc sức khỏe, công tác xă hội và nhiều tổ chức từ thiện (Hội chữ thập đỏ, Cứu trợ trẻ em...) cũng đă được bắt đầu bằng cách tuyên xưng Cơ đốc nhân, bởi v́ đức tin Cơ đốc luôn bao hàm ḷng trắc ẩn đối với người lân cận. Điều này dựa trên sự dạy dỗ và tấm gương của Chúa Giê-su. Thay vào đó, những người vô thần và những người theo chủ nghĩa nhân văn thường là những người ngoài cuộc trong lĩnh vực này. Nhà báo người Anh Malcolm Muggeridge (1903-1990), bản thân là một người theo chủ nghĩa nhân văn thế tục, nhưng vẫn trung thực, đă nhận thấy điều này. Ông chú ư đến cách thế giới quan ảnh hưởng đến văn hóa:"Tôi đă trải qua nhiều năm ở Ấn Độ và Châu Phi, và ở cả hai nơi này, tôi đă gặp rất nhiều hoạt động chân chính do các Cơ đốc nhân thuộc các giáo phái khác nhau duy tŕ; nhưng chưa một lần tôi bắt gặp một bệnh viện hoặc trại trẻ mồ côi do một tổ chức xă hội chủ nghĩa hoặc một viện điều dưỡng dành cho người phong hủi duy tŕ. hoạt động trên cơ sở của chủ nghĩa nhân văn." (7) Những trích dẫn sau đây cho thấy thêm đức tin Cơ đốc đă ảnh hưởng như thế nào đến ngành điều dưỡng và các lĩnh vực khác thông qua công việc truyền giáo. Hầu hết các bệnh viện ở Châu Phi và Ấn Độ ra đời nhờ sứ mệnh Cơ đốc và mong muốn giúp đỡ. Phần lớn các bệnh viện đầu tiên của châu Âu cũng bắt nguồn từ ảnh hưởng của đức tin Cơ đốc. Đức Chúa Trời có thể trực tiếp chữa lành một người, nhưng nhiều người đă nhận được sự giúp đỡ thông qua y học và bệnh viện. Đức tin Kitô giáo đă đóng một vai tṛ quan trọng trong đó.
Trong thời Trung cổ, những người thuộc Ḍng Thánh Biển Đức đă duy tŕ hơn hai ngh́n bệnh viện chỉ riêng ở Tây Âu. Thế kỷ 12 có ư nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt này, đặc biệt là ở đó, nơi Ḍng Thánh John hoạt động. Ví dụ, Bệnh viện lớn của Đức Thánh Linh được thành lập vào năm 1145 tại Montpellier, nơi này nhanh chóng trở thành trung tâm giáo dục y tế và trung tâm y tế của Montpellier trong năm 1221. Ngoài việc chăm sóc y tế, các bệnh viện này c̣n cung cấp thức ăn cho người đói và người nghèo. chăm sóc các góa phụ và trẻ mồ côi, và bố thí cho những người cần đến họ. (số 8)
Mặc dù nhà thờ Thiên chúa giáo đă bị chỉ trích rất nhiều trong suốt lịch sử của nó, nhưng nó vẫn là nhà tiên phong trong việc chăm sóc y tế cho người nghèo, giúp đỡ những người bị bắt, vô gia cư hoặc những người sắp chết và cải thiện môi trường làm việc. Ở Ấn Độ, các bệnh viện và cơ sở giáo dục tốt nhất có liên quan đến nó là kết quả của công việc truyền giáo Cơ đốc giáo, thậm chí đến mức nhiều người theo đạo Hindu sử dụng các bệnh viện này nhiều hơn các bệnh viện do chính phủ duy tŕ, bởi v́ họ biết rằng họ sẽ được chăm sóc tốt hơn. ở đó. Người ta ước tính rằng khi Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu, 90% y tá ở Ấn Độ là Cơ đốc nhân và 80% trong số họ được đào tạo tại các bệnh viện truyền giáo. (9)
Trong nhà thờ, các công việc của cuộc sống này cũng được quan tâm nhiều như các công việc của cuộc sống tương lai; dường như mọi thứ mà người châu Phi đạt được đều bắt nguồn từ công việc truyền giáo của nhà thờ. (Nelson Mandela trong cuốn tự truyện Long Walk to Freedom)
Có phải nhà thờ đă bức hại các nhà khoa học? Như đă tŕnh bày, đức tin Thiên chúa giáo đă ảnh hưởng rất lớn đến sự ra đời của cuộc cách mạng khoa học. Một lư do cho điều này là các trường đại học do nhà thờ thành lập. Do đó, tuyên bố rằng những người vô thần thích nuôi dưỡng, cụ thể là đức tin Cơ đốc giáo sẽ là một trở ngại cho sự phát triển của khoa học, là một huyền thoại lớn. Điều này cũng được thể hiện qua thực tế là các quốc gia mà đức tin Kitô giáo có ảnh hưởng lâu dài nhất đều là những quốc gia tiên phong trong lĩnh vực khoa học và nghiên cứu. C̣n quan điểm cho rằng nhà thờ bức hại các nhà khoa học th́ sao? Giới vô thần muốn duy tŕ quan niệm này, nhưng nhiều nhà nghiên cứu lịch sử coi đó là sự bóp méo lịch sử. Khái niệm về sự đối đầu giữa đức tin và khoa học này chỉ có từ cuối thế kỷ 19, khi các nhà văn ủng hộ lư thuyết của Darwin, chẳng hạn như Andrew Dickson White và John William Draper, đưa nó vào sách của họ. Tuy nhiên, chẳng hạn nhà nghiên cứu thời trung cổ James Hannam đă nhận định:
Trái ngược với niềm tin thông thường, nhà thờ không bao giờ ủng hộ ư tưởng về trái đất phẳng, không bao giờ phản đối khám nghiệm tử thi và chắc chắn không bao giờ thiêu sống bất kỳ ai v́ hệ tư tưởng khoa học của họ. (10)
Tim O'Neill, một người theo chủ nghĩa hoài nghi người Úc, đă đưa ra quan điểm về tuyên bố này và cho thấy người ta thực sự biết rất ít về lịch sử như thế nào: "Không khó để đập tan cái thứ nhảm nhí này, đặc biệt là khi những người nói về nó chẳng biết ǵ về lịch sử. Họ chỉ nhặt nhạnh những ư tưởng kỳ lạ này từ các trang web và sách phổ biến. bằng chứng không thể chối căi. Tôi thấy thật thú vị khi chọc ghẹo những người tuyên truyền một cách hoàn hảo bằng cách yêu cầu họ nêu tên một - chỉ một - nhà khoa học đă bị thiêu sống hoặc bị bức hại hoặc áp bức v́ nghiên cứu của ông trong thời Trung cổ. Họ không bao giờ có thể nêu tên một người nào ... Khi tôi liệt kê danh sách các nhà khoa học thời Trung Cổ - Albertus Magnus, Robert Grosseteste, Roger Bacon, John Peckham, Duns Scotus, Thomas Bradwardine, Walter Burley, William Heytesbury, Richard Swineshead, John Dumbleton, Richard of Wallingford, Nicholas Oresme, Jean Buridan,và Nicolaus Cusanus—và tôi hỏi tại sao những người này trong ḥa b́nh đă phát triển khoa học thời Trung cổ mà không bị nhà thờ quấy rầy, các đối thủ của tôi thường ṿ đầu bứt tai, tự hỏi điều ǵ đă thực sự xảy ra." (11) C̣n Galileo Galilei, người đă lật ngược mô h́nh lấy trái đất làm trung tâm của Ptolemy của Hy Lạp về mặt trời quay quanh trái đất th́ sao? Đúng là Giáo hoàng đă hành động sai trái với ông ta, nhưng vấn đề là sự bóp méo việc sử dụng quyền lực, chứ không phải là phản đối khoa học. (Vâng, các giáo hoàng và Giáo hội Công giáo đă phạm nhiều tội khác, chẳng hạn như Thập tự chinh và Ṭa án dị giáo. Tuy nhiên, đó là vấn đề hoàn toàn từ bỏ đức tin Cơ đốc hoặc không tuân theo lời dạy của Chúa Giê-su. Nhiều người không hiểu điều này sự khác biệt.) Cũng cần lưu ư rằng cả những người đại diện cho khoa học và đức tin đều có thái độ khác nhau đối với lư thuyết của Galileo. Một số nhà khoa học đứng về phía ông, những người khác chống lại. Tương tự như vậy, một số giáo dân phản đối ư tưởng của ông, những người khác bảo vệ. Điều này luôn xảy ra khi các lư thuyết mới xuất hiện. Tại sao sau đó Galileo lại không được ḷng Giáo hoàng và bị quản thúc tại biệt thự của ḿnh? Một lư do là hành vi của chính Galileo. Giáo hoàng từng là một người rất ngưỡng mộ Galileo, nhưng cách viết thiếu tế nhị của Galileo đă góp phần làm t́nh h́nh leo thang. Ari Turunen đă viết về bối cảnh của vấn đề:
Mặc dù Galileo Galilei được coi là một trong những vị tử đạo vĩ đại của khoa học, nhưng phải nhớ rằng ông không phải là người dễ chịu cho lắm. Anh ta kiêu ngạo và dễ nổi cáu, hay than văn và thiếu sự tế nhị cũng như tài đối nhân xử thế. Nhờ miệng lưỡi sắc bén và óc hài hước, anh ta cũng không thiếu kẻ thù. Tác phẩm thiên văn của Galileo sử dụng h́nh thức đối thoại. Cuốn sách giới thiệu một nhân vật kém thông minh hơn tên là Simplicius, người đă tŕnh bày cho Galileo những lư lẽ phản bác ngu ngốc nhất. Kẻ thù của Galileo thuyết phục được Giáo hoàng rằng Galileo ám chỉ Giáo hoàng với h́nh tượng Simplicus của ông ta. Chỉ sau đó, Urban VIII phù phiếm và nhạy cảm mới có hành động chống lại Galileo... ...Urbanus coi ḿnh là một nhà cải cách và ông đồng ư nói chuyện với Galileo, nhưng phong cách của Galileo là quá nhiều đối với Giáo hoàng. Cho dù Galilei có muốn nói đến Giáo hoàng với nhân vật Simplicus của ông ta hay không, việc lựa chọn cái tên thật tệ hại. Galilei không quan tâm đến những điều cơ bản để viết thành công, bao gồm việc tôn trọng người đọc. (12)
Và những người vô thần có bức hại các nhà khoa học không? Ít nhất điều này đă xảy ra ở Liên Xô vô thần, nơi một số nhà khoa học, chẳng hạn như nhà di truyền học, đă bị bỏ tù và một số bị giết v́ những ư tưởng khoa học của họ. Tương tự như vậy, một số nhà khoa học đă thiệt mạng trong Cách mạng Pháp: nhà hóa học Antoine Lavoisier, nhà thiên văn học Jean Sylvain Bally, nhà khoáng vật học Philippe-Frédéric de Dietrich, nhà thiên văn học Jean Baptiste Gaspard Bochart de Saron, nhà thực vật học Chrétien Guillaume de Lamoignon de Malesherbes. Tuy nhiên, họ không bị giết v́ ư tưởng khoa học mà v́ quan điểm chính trị của họ. Ở đây cũng vậy, đó là một trường hợp lạm quyền, gây ra những hậu quả hoàn toàn khác với cách Galileo bị đối xử.
Con đường lạc lối của khoa học: Darwin đă dẫn dắt khoa học lạc lối. Bài viết này bắt đầu từ lời khẳng định được ủng hộ bởi những người vô thần rằng đức tin Cơ đốc là một trở ngại cho sự phát triển của khoa học. Người ta tuyên bố rằng tuyên bố này không có cơ sở, nhưng tầm quan trọng của đức tin Cơ đốc có ư nghĩa quyết định đối với sự ra đời và tiến bộ của khoa học. Quan điểm này dựa trên một số yếu tố như sự ra đời của ngôn ngữ văn học, khả năng đọc viết, trường học và đại học, sự phát triển của y học và bệnh viện, và thực tế là cuộc cách mạng khoa học đă diễn ra ở châu Âu thế kỷ 16-18, nơi chủ nghĩa hữu thần của Cơ đốc giáo chiếm ưu thế. Sự thay đổi này không bắt đầu trong một xă hội thế tục, mà cụ thể là trong một xă hội được truyền cảm hứng bởi đức tin Kitô giáo. Nếu niềm tin Kitô giáo đă là một nhân tố tích cực cho sự phát triển của khoa học, th́ tư tưởng chống lại khoa học và niềm tin Kitô giáo bắt nguồn từ đâu? Một lư do cho điều này chắc chắn là Charles Darwin với thuyết tiến hóa của ông vào thế kỷ 19. Lư thuyết này, tương thích với chủ nghĩa tự nhiên, là thủ phạm chính của h́nh ảnh này. Nhà vô thần nổi tiếng Richard Dawkins cũng đă tuyên bố rằng trước thời của Darwin, rất khó để ông trở thành một người vô thần: " Mặc dù chủ nghĩa vô thần có vẻ hợp lư trước Darwin, nhưng chỉ có Darwin mới là người đặt nền móng cho chủ nghĩa vô thần được biện minh về mặt trí tuệ" (13). Nhưng nhưng. Khi các nhà khoa học tự nhiên tôn trọng công tŕnh và nỗ lực của Darwin, họ có phần đúng, có phần sai. Họ đúng khi cho rằng Darwin là một nhà tự nhiên học thấu đáo, người đă quan sát chính xác về tự nhiên, t́m hiểu về chủ đề của ḿnh và biết cách viết về nghiên cứu của ḿnh. Không ai đă đọc kiệt tác Nguồn gốc các loài của ông có thể phủ nhận điều đó. Tuy nhiên, họ đă sai khi chấp nhận giả định của Darwin rằng tất cả các loài được di truyền từ một tế bào nguyên thủy duy nhất (thuyết nguyên thủy giữa tế bào với con người). Lư do rất đơn giản: Darwin đă không thể đưa ra bất kỳ ví dụ nào về sự thay đổi của các loài trong cuốn sách Nguồn gốc của các loài mà chỉ đưa ra các ví dụ về sự biến đổi và thích nghi. Họ là hai việc khác nhau. Sự thay đổi, chẳng hạn như kích thước của mỏ chim, kích thước của cánh, hoặc khả năng kháng thuốc tốt hơn của một số vi khuẩn, không có cách nào chứng minh rằng tất cả các loài hiện tại đều có nguồn gốc từ cùng một tế bào ban đầu. Các ư kiến sau đây nói thêm về chủ đề này. Bản thân Darwin cũng phải thừa nhận rằng ông không có ví dụ nào về những thay đổi thực sự trong các loài. Theo nghĩa này, có thể nói rằng Darwin đă đánh lừa khoa học:
Darwin: Tôi thực sự mệt mỏi khi phải nói với mọi người rằng tôi không tuyên bố có bất kỳ bằng chứng trực tiếp nào về việc một loài đă biến đổi thành một loài khác và tôi tin rằng quan điểm này đúng chủ yếu v́ rất nhiều hiện tượng có thể được nhóm lại và giải thích dựa trên nó. (14)
Encyclopedia Britannica: Cần phải nhấn mạnh rằng Darwin chưa bao giờ tuyên bố có thể chứng minh sự tiến hóa hay nguồn gốc của các loài. Ông tuyên bố rằng nếu quá tŕnh tiến hóa đă diễn ra th́ có thể giải thích được nhiều sự thật không thể giải thích được. Do đó, bằng chứng ủng hộ sự tiến hóa là gián tiếp.
"Thật là mỉa mai khi một cuốn sách đă trở nên nổi tiếng về việc giải thích nguồn gốc của các loài lại không giải thích nó theo bất kỳ cách nào." (Christopher Booker, người phụ trách chuyên mục của Times đề cập đến kiệt tác của Darwin, Nguồn gốc các loài ) (15)
Nếu Darwin đă dạy theo cách thay v́ một cây phả hệ (quan điểm về sự tiến hóa, giả định rằng các dạng sống hiện tại phát triển từ cùng một tế bào nguyên thủy), th́ sẽ có hàng trăm cây phả hệ và mỗi cây có các nhánh. và phân nhánh, anh ta sẽ gần với sự thật hơn. Sự biến đổi có xảy ra, như Darwin đă chứng minh, nhưng chỉ trong các loài cơ bản. Các quan sát phù hợp với mô h́nh sáng tạo hơn là với mô h́nh nơi các dạng sống hiện tại bắt nguồn từ một tế bào nguyên thủy duy nhất, tức là một dạng thân duy nhất:
Chúng ta chỉ có thể suy đoán về động cơ khiến các nhà khoa học chấp nhận khái niệm về một tổ tiên chung một cách thiếu phê phán. Chiến thắng của học thuyết Darwin chắc chắn đă làm tăng uy tín của các nhà khoa học, và ư tưởng về một quá tŕnh tự động rất phù hợp với tinh thần của thời đại đến nỗi lư thuyết thậm chí c̣n nhận được sự ủng hộ đáng ngạc nhiên từ các nhà lănh đạo tôn giáo. Trong mọi trường hợp, các nhà khoa học đă chấp nhận lư thuyết này trước khi nó được kiểm tra nghiêm ngặt, và sau đó sử dụng thẩm quyền của họ để thuyết phục công chúng rằng các quá tŕnh tự nhiên là đủ để tạo ra con người từ vi khuẩn và vi khuẩn từ hỗn hợp hóa học. Khoa học tiến hóa bắt đầu t́m kiếm bằng chứng hỗ trợ và bắt đầu đưa ra những lời giải thích có thể vô hiệu hóa bằng chứng tiêu cực. (16)
Hồ sơ hóa thạch cũng bác bỏ lư thuyết của Darwin. Từ lâu, người ta đă biết rằng không thể nh́n thấy sự phát triển dần dần trong hóa thạch, mặc dù thuyết tiến hóa đ̣i hỏi sự xuất hiện của các giác quan, cơ quan và loài mới thông qua điều này. Ví dụ, Steven M. Stanley đă tuyên bố: "Không có một ví dụ nào trong vật liệu hóa thạch đă biết mà một đặc điểm cấu trúc mới quan trọng đang phát triển cho loài (17) Việc thiếu sự phát triển dần dần đă được thừa nhận bởi một số nhà cổ sinh vật học hàng đầu. Cả hóa thạch lẫn các loài hiện đại đều không cho thấy các ví dụ về sự phát triển dần dần mà lư thuyết của Darwin yêu cầu. Dưới đây là một số ư kiến của đại diện các bảo tàng lịch sử tự nhiên. Bảo tàng lịch sử tự nhiên lẽ ra phải có bằng chứng tốt nhất về sự tiến hóa, nhưng họ th́ không. Đầu tiên, một nhận xét của Stephen Jay Gould, có lẽ là nhà cổ sinh vật học nổi tiếng nhất của thời đại chúng ta (Bảo tàng Mỹ). Ông phủ nhận sự phát triển dần dần trong hóa thạch:
Stephen Jay Gould: Tôi không muốn hạ thấp năng lực tiềm ẩn của quan điểm tiến hóa dần dần theo bất kỳ cách nào. Tôi chỉ muốn nhận xét rằng nó chưa bao giờ được 'quan sát thấy' trong đá. (The Panda's Thumb, 1988, p. 182,183).
Tiến sĩ Etheridge, người phụ trách nổi tiếng thế giới của Bảo tàng Anh: Trong toàn bộ bảo tàng này, thậm chí không có một thứ nhỏ nhất nào có thể chứng minh nguồn gốc của các loài từ các dạng trung gian. Thuyết tiến hóa không dựa trên các quan sát và sự kiện. Khi nói về thời đại của loài người, t́nh h́nh cũng giống như vậy. Bảo tàng này chứa đầy bằng chứng cho thấy những lư thuyết này ngu ngốc như thế nào. (18)
Không một quan chức nào trong năm bảo tàng cổ sinh vật học lớn có thể tŕnh bày dù chỉ một ví dụ đơn giản về một sinh vật có thể được coi là một bằng chứng về sự tiến hóa dần dần từ loài này sang loài khác. (Tóm tắt của Tiến sĩ Luther Sunderland trong cuốn sách Bí ẩn của Darwin . Ông đă phỏng vấn nhiều đại diện của các bảo tàng lịch sử tự nhiên cho cuốn sách này và viết thư cho họ nhằm mục đích t́m ra loại bằng chứng nào họ có để chứng minh sự tiến hóa. [19])
Tuyên bố sau đây tiếp tục về cùng một chủ đề. Cố Tiến sĩ Colin Patterson là nhà cổ sinh vật học cao cấp và chuyên gia hóa thạch tại Bảo tàng Anh (Lịch sử Tự nhiên). Ông đă viết một cuốn sách về sự tiến hóa - nhưng khi ai đó hỏi ông tại sao cuốn sách của ông không có bất kỳ h́nh ảnh nào về các dạng trung gian (các sinh vật đang trong quá tŕnh chuyển đổi), ông đă viết câu trả lời như sau. Trong câu trả lời của ḿnh, anh ấy đề cập đến Stephen J. Gould, có lẽ là nhà cổ sinh vật học nổi tiếng nhất trên thế giới (thêm đậm):
Tôi hoàn toàn đồng ư với ư kiến của bạn về việc thiếu các minh họa trong cuốn sách của tôi về các sinh vật đang tiến hóa trong giai đoạn chuyển tiếp. Nếu tôi biết về bất kỳ thứ ǵ như vậy, về một hóa thạch hay sự sống, tôi sẽ sẵn sàng đưa chúng vào cuốn sách của ḿnh . Bạn đề xuất rằng tôi nên sử dụng một nghệ sĩ để minh họa các h́nh thức trung gian như vậy nhưng anh ta sẽ lấy thông tin cho các bức vẽ của ḿnh từ đâu? Nói thật, tôi không thể cung cấp cho anh thông tin này, và nếu tôi để vấn đề này cho một nghệ sĩ, chẳng phải sẽ khiến người đọc lạc lối hay sao? Tôi đă viết nội dung cuốn sách của ḿnh cách đây bốn năm [trong cuốn sách anh ấy nói rằng anh ấy tin vào một số h́nh thức trung gian]. Nếu tôi viết nó bây giờ, tôi nghĩ rằng cuốn sách sẽ khá khác. Chủ nghĩa dần dần (thay đổi dần dần) là một khái niệm mà tôi tin tưởng. Không chỉ v́ uy tín của Darwin mà c̣n v́ sự hiểu biết của tôi về di truyền học dường như đ̣i hỏi điều đó. Tuy nhiên, thật khó để chống lại [chuyên gia hóa thạch nổi tiếng Stephen J.] Gould và những người khác của viện bảo tàng Hoa Kỳ khi họ nói rằng không có dạng trung gian nào . Là một nhà cổ sinh vật học, tôi làm việc nhiều với các vấn đề triết học khi nhận ra các dạng sinh vật cổ xưa từ vật liệu hóa thạch. Bạn nói rằng ít nhất tôi cũng nên 'tŕnh bày một bức ảnh về hóa thạch, từ đó nhóm sinh vật nào đó đă tiến hóa.' Tôi nói thẳng – không có hóa thạch nào có thể là bằng chứng chắc chắn cả . (20)
Điều ǵ có thể được kết luận từ những điều trên? Chúng ta có thể tôn trọng Darwin như một nhà tự nhiên học giỏi, nhưng chúng ta không nên chấp nhận giả định của ông về sự di truyền của các loài từ một tế bào nguyên thủy duy nhất. Bằng chứng rơ ràng là phù hợp hơn cho sự sáng tạo để Đức Chúa Trời ngay lập tức làm cho mọi thứ sẵn sàng. Sự biến đổi có xảy ra, và các loài có thể được biến đổi ở một mức độ nào đó thông qua lai tạo, nhưng tất cả những điều này đều có giới hạn sẽ sớm đạt đến. Kết luận là Darwin đă dẫn dắt khoa học lạc lối, và các nhà khoa học vô thần đă đi theo ông. Sẽ hợp lư hơn nhiều nếu dựa vào quan điểm lịch sử rằng Chúa đă tạo ra mọi thứ để nó không tự phát sinh. Quan điểm này cũng được ủng hộ bởi thực tế là các nhà khoa học không biết giải pháp cho việc làm thế nào sự sống có thể tự h́nh thành. Điều này là dễ hiểu bởi v́ nó là một điều không thể. Chỉ có sự sống mới có thể tạo ra sự sống, và không t́m thấy ngoại lệ nào cho quy luật này. Đối với những dạng sống đầu tiên, điều này rơ ràng đề cập đến Chúa:
- (Sáng 1:1) Ban đầu, Đức Chúa Trời dựng nên trời và đất.
- (Rô-ma 1:19,20) Bởi v́ điều có thể biết về Đức Chúa Trời được bày tỏ nơi họ; v́ Đức Chúa Trời đă bày tỏ điều đó cho họ. 20 V́ những thứ vô h́nh của Ngài từ khi sáng tạo thế giới được nh́n thấy rơ ràng, được hiểu bởi những thứ được tạo ra, ngay cả quyền năng vĩnh cửu và Thần tính của Ngài; để họ không có lư do ǵ :
- (Khải Huyền 4:11) Lạy Chúa, Chúa đáng được vinh quang, danh dự và quyền lực: v́ Chúa đă tạo dựng muôn vật, và chúng được tạo thành và được tạo thành v́ niềm vui của Chúa .
References:
1. Vishal Mangalwadi: Kirja, joka muutti maailmasi (The Book that Made Your World), p. 181,182,186 2. Usko, toivo ja terveys, p. 143, Article by Risto A. Ahonen 3. Matti Korhonen, Uusi tie 6.2.2014, p. 5. 4. John Dewey: ”The American Intellectual Frontier” New Republic, 10.5.1922, vol. 30, p. 303. Republic Publishing 1922 5. Noah J. Efron: Myytti 9: Kristinusko synnytti modernin luonnontieteen, p. 82,83 in book Galileo tyrmässä ja muita myyttejä tieteestä ja uskonnosta (Galileo Goes to Jail and Other Myths about Science and Religion) 6. James Hannam: The Genesis of Science: How the Christian Middle Ages Launched the Scientific Revolution 7. Malcolm Muggeridge: Jesus Rediscovered. Pyramid 1969. 8. David Bentley Hart: Ateismin harhat (Atheist Delusions: The Christian Revolution and its Fashionable Enemies), p. 65 9. Lennart Saari: Haavoittunut planeetta, p. 104 10. James Hannam: The Genesis of Science: How the Christian Middle Ages Launched the Scientific Revolution 11. O'Neill, T., The Dark Age Myth: An atheist reviews God's Philosophers, strangenotions.com, 17 October 2009 12. Ari Turunen: Ei onnistu, p. 201,202 13. Richard Dawkins: Sokea kelloseppä, p. 20 14. Darwin, F & Seward A. C. toim. (1903, 1: 184): More letters of Charles Darwin. 2 vols. London: John Murray. 15. Christopher Booker: “The Evolution of a Theory”, The Star, Johannesburg, 20.4.1982, p. 19 16. Philip E. Johnson: Darwin on Trial, p. 152 17. Steven M. Stanley: Macroevolution: Pattern and Process. San Francisco: W.M. Freeman and Co. 1979, p. 39 18. Thoralf Gulbrandsen: Puuttuva rengas, p. 94 19. Sit. kirjasta "Taustaa tekijänoikeudesta maailmaan", Kimmo Pälikkö ja Markku Särelä, p. 19. 20. Carl Wieland: Kiviä ja luita (Stones and Bones), p. 15,16
|
Jesus is the way, the truth and the life
Grap to eternal life!
|
Other Google Translate machine translations:
Hàng triệu năm / khủng long / sự tiến
hóa của con người? |